Giải Câu hỏi trang 16 SGK Lịch sử và Địa lí 9
Đề bài
Hai hình trên phản ánh tình hình trái ngược ở châu Á trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939). Trong khi Nhật Bản tăng cường chiến tranh xâm lược thì ở hầu hết các nước còn lại như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã bùng nổ các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Vì sao như vậy? Những biểu hiện nào chứng tỏ điều đó?
Mô tả hình bằng lời
Hình 3.1. Quân Nhật tiến vào chiếm đóng vùng Đông Bắc Trung Quốc (1931): ảnh đen trắng, đoàn lính Nhật đội mũ sắt tiến qua một cổng vòm thành cổ. Hình 3.2. M. Gan-đi và người dân Ấn Độ tuần hành chống thực dân Anh độc quyền muối (1930): ảnh màu, Gan-đi (mặc áo trắng, chống gậy) dẫn đầu đoàn người Ấn Độ đội mũ trắng đi tuần hành.
Gợi ý trả lời
a) Vì sao giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, trong khi Nhật Bản tăng cường chiến tranh xâm lược thì ở hầu hết các nước châu Á còn lại lại bùng nổ phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc?
- Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và nhất là do tác động của cuộc đại suy thoái kinh tế 1929 – 1933, mâu thuẫn trong lòng các nước tư bản ngày càng gay gắt. Để thoát khỏi khủng hoảng, một số nước (trong đó có Nhật Bản) đã đi theo con đường phát xít hóa bộ máy thống trị và đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, bành trướng ra bên ngoài nhằm giành thuộc địa, thị trường. Vì thế Nhật Bản tăng cường xâm lược (mở đầu là chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc năm 1931).
- Trong khi đó, ở hầu hết các nước thuộc địa, phụ thuộc như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, các nước đế quốc lại trút gánh nặng khủng hoảng lên nhân dân thuộc địa, tăng cường bóc lột, vơ vét. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc thuộc địa với đế quốc xâm lược ngày càng sâu sắc, đời sống nhân dân cực khổ.
- Cùng với đó là ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới; nhiều chính đảng (tư sản dân tộc và nhất là các đảng cộng sản) ra đời, trực tiếp lãnh đạo nhân dân đấu tranh.
→ Những nguyên nhân đó đã làm bùng nổ mạnh mẽ các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới.
b) Những biểu hiện chứng tỏ điều đó:
- Nhật Bản tăng cường chiến tranh xâm lược: năm 1931 quân Nhật đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc (Hình 3.1), từng bước mở rộng xâm lược Trung Quốc và chuẩn bị gây chiến tranh ở châu Á – Thái Bình Dương.
- Ở Trung Quốc: diễn ra cuộc đấu tranh cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo; từ năm 1937 nhân dân Trung Quốc tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật Bản xâm lược.
- Ở Ấn Độ: phong trào đấu tranh chống thực dân Anh phát triển mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại và M. Gan-đi, theo đường lối hòa bình, bất bạo động, bất hợp tác. Tiêu biểu là cuộc tuần hành phản đối chính sách độc quyền muối của thực dân Anh năm 1930 (Hình 3.2).
- Ở các nước Đông Nam Á: phong trào giải phóng dân tộc lan rộng; nhiều đảng cộng sản được thành lập (In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Mã Lai...) và lãnh đạo đấu tranh, tiêu biểu như phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh (1930 – 1931) ở Việt Nam, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân ở In-đô-nê-xi-a...
→ Như vậy, hai hình ảnh trong bài phản ánh đúng tình hình trái ngược ở châu Á: một bên là Nhật Bản đi xâm lược, một bên là các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.